CÁC THỜI KỲ
Từ đầu thời đại đồng thau, các bộ lạc người
Việt đã định cư chắc chắn ở Bắc Bộ và Bắc
Trung Bộ. Bấy giờ có khoảng 15 bộ lạc Lạc Việt
sống chủ yếu ở miền trung du và đồng bằng Bắc
Bộ, hàng chục bộ lạc Âu Việt sống chủ yếu ở
miền Việt Bắc. Tại nhiều nơi, người Lạc Việt và
người Âu Việt sống xen kẽ với nhau, bên cạnh các
thành phần dân cư khác. Do nhu cầu trị thuỷ, nhu cầu
chống ngoại xâm và do việc trao đổi kinh tế, văn hoá
ngày càng gia tăng, các bộ lạc sinh sống gần gũi nhau
có xu hướng tập hợp và thống nhất lại. Trong số
các bộ lạc Lạc Việt, bộ lạc Văn Lang hùng mạnh
hơn cả. Thủ lĩnh bộ lạc này là người đứng ra
thống nhất tất cả các bộ lạc Lạc Việt, dựng lên
nước. Xích Quỷ (Thời Kinh Dương Vương vào năm 2879
TCN) Văn Lang (Tồn tại 2671 năm (2876 trước CN - 258
trước CN) Văn Lang, tự xưng là vua - mà sử cũ gọi là
Hùng Vương và con cháu ông nhiều đời về sau vẫn
nối truyền danh hiệu đó. Căn cứ vào các tài liệu
sử học, có thể tạm xác định địa bàn nước Văn
Lang tương ứng với vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
nước ta hiện nay cùng với một phần phía nam Quảng
Ðông, Quảng Tây (Trung Quốc). Âu Lạc (Tồn tại 50 năm
(257 trước CN - 207 trước CN) Năm 221 TCN, Tần Thuỷ
Hoàng cho quân xâm lược đất của toàn bộ các nhóm
người Việt. Thục Phán - thủ lĩnh liên minh các bộ
lạc Âu Việt - được tôn làm người lãnh đạo cuộc
chiến chống Tần. Năm 208 TCN, quân Tần phải rút lui.
Với uy thế của mình, Thục Phán xưng vương (An Dương
Vương), liên kết các bộ lạc Lạc Việt và Âu Việt
lại, dựng nên nước Âu Lạc. Năm 207 TCN, Triệu Đà -
vua nước Nam Việt - tung quân đánh chiếm Âu Lạc.
Cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại. Suốt 7
thế kỷ tiếp đó, mặc dù các thế lực phong kiến
phương Bắc thay nhau đô hộ, chia nước ta thành nhiều
châu, quận với những tên gọi khác lạ mà chúng đặt
ra, nhưng vẫn không xoá nổi cái tên "Âu Lạc" trong ý
thức, tình cảm và sinh hoạt thường ngày của nhân
dân ta. Vạn Xuân (Tồn tại 58 năm (544-602) Mùa xuân năm
542, Lý Bí khởi nghĩa đánh đuổi quân Lương, giải
phóng lãnh thổ. Tháng 2/544, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế,
đặt Quốc hiệu là Vạn Xuân, khẳng định niềm tự
tôn dân tộc, tinh thần độc lập và mong muốn đất
nước được bền vững muôn đời. Chính quyền Lý Bí
tồn tại không lâu rồi lại rơi vào vòng đô hộ của
các triều đại phong kiến Trung Quốc (từ năm 602).
Quốc hiệu Vạn Xuân bị vùi dập và chỉ được khôi
phục sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán bằng
chiến thắng Bạch Ðằng năm 938, chấm dứt thời kỳ
Bắc thuộc. Đại Cồ Việt (Tồn tại 86 năm (968-1054)
Năm 968, Ðinh Bộ Lĩnh dẹp yên các sứ quân cát cứ,
thống nhất quốc gia, lên ngôi Hoàng đế và cho đổi
Quốc hiệu là Ðại Cồ Việt (nước Việt lớn). Quốc
hiệu này duy trì suốt đời Ðinh (968-979), Tiền Lê
(980-1009) và đầu thời Lý (1010-1053). Đại Việt (Tồn
tại 748 năm (1054-1804) Năm 1054, nhân điềm lành lớn là
việc xuất hiện một ngôi sao sáng chói nhiều ngày
mới tắt, nhà Lý liền cho đổi tên nước là Ðại
Việt và Quốc hiệu Ðại Việt được giữ nguyên
đến hết thời Trần… Sau 10 năm kháng chiến
(1418-1427), cuộc khởi nghĩa chống Minh của Lê Lợi
toàn thắng. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, đặt tên nước
là Ðại Việt (lãnh thổ nước ta lúc này về phía Nam
đã tới Huế). Quốc hiệu Ðại Việt được giữ qua
suốt thời Hậu Lê (1428-1787) và thời Tây Sơn
(1788-1802). Đại Ngu (Tồn tại 7 năm (1400-1406) Tháng
3/1400, Hồ Quý Ly phế Trần Thiếu Ðế, lập ra nhà Hồ
và cho đổi tên nước thành Ðại Ngu ("ngu" tiếng cổ
có nghĩa là "sự yên vui"). Quốc hiệu đó tồn tại
đến khi giặc Minh đánh bại triều Hồ (tháng 4/1407).
Việt Nam (Tồn tại 80 năm (1804-1884) Năm 1802, Nguyễn
Ánh đăng quang, mở đầu thời Nguyễn và cho đổi tên
nước là Việt Nam, Quốc hiệu Việt Nam được công
nhận hoàn toàn về mặt ngoại giao để trở thành
chính thức vào năm 1804. Tuy nhiên, hai tiếng "Việt Nam"
lại thấy xuất hiện từ khá sớm trong lịch sử
nước ta. Ngay từ cuối thế kỷ 14 đã có một bộ
sách nhan đề Việt Nam thế chí do trạng nguyên Hồ
Tông Thốc biên soạn. Cuốn Dư địa chí của Nguyễn
Trãi (đầu thế kỷ 15) nhiều lần nhắc đến hai chữ
"Việt Nam". Ðiều này còn được đề cập rõ ràng
trong những tác phẩm của trạng Trình Nguyễn Bỉnh
Khiêm (1491-1585), chẳng hạn ngay trang mở đầu tập
Trình tiên sinh quốc ngữ đã có câu: "Việt Nam khởi
tổ xây nền". Người ta cũng tìm thấy hai chữ "Việt
Nam" trên một số tấm bia khắc từ thế kỷ 16-17 như
bia chùa Bảo Lâm (1558) ở Hải Phòng, bia chùa Cam Lộ
(1590) ở Hà Tây, bia chùa Phúc Thành (1664) ở Bắc
Ninh.... Ðặc biệt bia Thuỷ Môn Ðình (1670) ở biên
giới Lạng Sơn có câu đầu: "Việt Nam hầu thiệt,
trấn Bắc ải quan" (đây là cửa ngõ yết hầu của
nước Việt Nam và là tiền đồn trấn giữ phương
Bắc). Về ý nghĩa, phần lớn các giả thuyết đều cho
rằng từ "Việt Nam" kiến tạo bởi hai yếu tố: chủng
tộc và địa lý (người Việt ở phương Nam). Đại Nam
(Tồn tại trên lý thuyết 107 năm (1838-1945) Ðến đời
vua Minh Mạng (1820-1840), Quốc hiệu được đổi thành
Ðại Nam. Dù vậy, hai tiếng "Việt Nam" vẫn được sử
dụng rộng rãi trong các tác phẩm văn học, trong nhiều
giao dịch dân sự và quan hệ xã hội. Vieeth Nam Dân
chủ Cộng hòa Ngày 19/8/1945, Cách mạng Tháng Tám thành
công, lật đổ hoàn toàn ách thống trị phong kiến và
thực dân, mở ra một kỷ nguyên mới. Ngày 02/9/1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai
sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Suốt 30 năm
tiếp theo, tuy đất nước lâm vào cảnh chiến tranh,
rồi chia cắt, hai tiếng "Việt nam" vẫn được phổ
biến từ Bắc chí Nam và trở thành thân thiết, thiêng
liêng với mọi người. Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam Ngày 30/4/1975, miền Nam được giải phóng, non
sông quy về một mối. Ngày 02/7/1976, trong kỳ họp
đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất,
toàn thể Quốc hội đã nhất trí lấy tên nước là
Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp năm
1980 và hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định Quốc
hiệu đó, đưa nó trở thành chính thức cả về pháp
lý lẫn trên thực tế
Các ý kiến mới nhất